Bình luận về quan điểm: "Bầu cử là trái tim của nền dân chủ hiện đại"

         Trong Nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân là cội nguồn của quyền lực Nhà nước. Đối với công dân, bầu cử là quyền chính trị quan trọng của họ chỉ khi nó dân chủ và tự do. Bầu cử tự do, dân chủ làm tăng tính hiện thực của quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội , tăng vai trò thực sự của công dân trong diễn đàn chính trị pháp lý để thành lập Nhà nước. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định “Nhà nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền Xã Hội Chủ Nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân (khoản 1 Điều 2); “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” (khoản 2 Điều 2); “Nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội và HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước” (Điều 6) . Các điều này là những nguyên lý phổ biến trên thế giới trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền dân chủ. Không thể có chính thể đại diện nếu không có bầu cử. Trong nền chính thể dân chủ đại diện, Nhà nước chỉ có thể được thiết lập và thực thi quyền lực quản lý xã hội khi có sự nhất trí của người dân – chủ thể duy nhất và đích thực của quyền lực Nhà nước. Có thể coi bầu cử là “trái tim”, là “yếu tố then chốt”, là “chìa khoá” và một trong những tiêu chí nền tảng để đánh giá mức độ của một nền dân chủ. Một chế độ chỉ được coi là dân chủ khi và chỉ khi có các cuộc bầu cử. Chế độ dân chủ phải thực hiện nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng chính trị, phải có cơ hội như nhau trong bầu cử, tất cả các lá phiếu đều có giá trị như nhau.



Bầu cử vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của nhân dân

            Muốn xây dựng lên một Nhà nước dân chủ, quyền lực của Nhà nước đó phải nằm trong tay của người dân. Quyền lực của nhân dân là quyền lực tối cao nhất mà thông qua bầu cử người dân sẽ trao quyền lực tối cao đó cho Nhà nước. Với tầm quan trọng của “quyền bầu cử” và “nghĩa vụ bầu cử”, nhiều nước trên thế giới đã ghi nhận những quyền này trong các văn bản pháp luật. “Quyền bầu cử” là quyền cơ bản của công dân một nước có độc lập, chủ quyền, được hiến định và bảo vệ, thực thi bằng pháp luật. Thực tế cho thấy, “quyền bầu cử” không phải là từ “trên trời rơi xuống” hay tự dưng mà có mà đó là cả một quá trình đấu tranh mới có được. Ở nước ta, lịch sử đã chứng minh rằng, dưới ách thống trị của Thực dân Pháp, những quyền lợi mà “một con người nên có” của nhân dân ta đã bị chúng tước đoạt, chà đạp, chèn ép. Qua quá trình đấu tranh đầy khó khăn, gian khổ, cách mạng Tháng 8 do Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã thành công rực rỡ. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bác Hồ đã đọc bản Tuyên Ngôn độc lập, khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Kể từ giây phút đó, nhân dân ta đã chính thức được hưởng đầy đủ các quyền công dân của một đất nước độc lập. Ngay từ Hiến pháp 1946 – bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận về quyền bầu cử: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi, không phân biệt trai gái, đều có quyền bầu cử trừ những người mất trí và những người mất công quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi, và phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử” (điều 18). Quyền và nghĩa vụ bầu cử tiếp tục được khẳng định qua các bản Hiến pháp sau đó. Hiến pháp 2013 nêu rõ: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mười mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định’’ (điều 27). Bên cạnh quyền thì người dân còn có nghĩa vụ, trách nghiệm đi bầu cử để chọn ra người xứng đáng đứng lên lãnh đạo đất nước, quản lí xã hội.

Bầu cử là hình thức giám sát quyền lực của nhân dân

Bản chất của con người là đam mê quyền lực. Sự đam mê quyền lực chính trị của con người luôn hiện hữu, luôn có khả năng tiến tới vô hạn. Khi con người càng ở gần vị trí có thể chiếm giữ quyền lực chính trị tối cao thì sự đam mê càng gia tăng. Không phải lúc nào người đại diện của nhân dân cũng thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân và không phải bao giờ Nhà nước cũng thực thi quyền lực của mình trong một phạm vi, mức độ nhất định. Chính vì vậy “hệ thống bầu cử theo nhiệm kỳ luôn là công cụ kiểm soát quan trọng, thể hiện rõ ràng nhất quyền quyết định tối cao của nhân dân[1]. Ở nhiều quốc gia nói chung, xu hướng lạm quyền, lộng quyền luôn hiện hữu ở trong đời sống, chính trị. Vì vậy , bầu cử có định kỳ sẽ là công cụ hiệu quả nhất để giám sát và chế ngự quyền lực rất hiệu quả. Bởi vì thông qua bầu cử, các đảng phái chính trị, các ứng cử viên sẽ thực thi quyền lực một cách có hiệu quả, thể hiện ý chí của nhân dân. Họ phải chứng minh rằng, họ xứng đáng với quyền lực mà nhân dân trao cho. Nếu không, họ sẽ bị cử tri bãi nhiệm.

Vấn đề về bầu cử ở Việt Nam hiện nay

Một số ưu điểm, hạn chế trong bầu cử ở nước ta hiện nay

          Từ năm 1946 đến nay, Nhà nước ta, các nhà làm luật luôn có những sửa đổi, điều chỉnh, hoàn thiện các quy định pháp luật về bầu cử ở nước ta. Từ khâu chuẩn bị cho đến lúc kết thúc cuộc bầu cử đều được diễn ra dân chủ, đảm bảo, an toàn và tích kiệm. Các nguyên tắc “ phổ thông, bình đẳng, trực tiếp, bỏ phiếu kín” đã được nêu rõ ở điều 7 Hiến pháp 2013. Đây đều là những nguyên tắc dân chủ, tiến bộ nhất hiện nay. Bên cạnh những ưu điểm thì bầu cử ở nước ta cũng tồn tại một số hạn chế nhất định:

Một là, hệ thống bầu cử ở nước ta hiện nay quá đề cao tính tập trung, các hội nghị hiệp thương vẫn còn nặng về sự hợp thức hóa chỉ đạo của Đảng. Biểu hiện ở đây là số lượng các đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân hầu hết được bầu theo dự kiến, định hướng của Đảng.

          Hai là, về vấn đề vận động bầu cử. Vấn đề vận động bầu cử cũng có nhiều hạn chế, chưa thu hút được sự quan tâm của các cử tri. Các cuộc tiếp xúc, gặp mặt cử tri còn khá hình thức, diễn ra sơ sài, nên nhiều khi có trường hợp “Nhiều cử tri đi bầu không biết hoặc hiểu biết rất ít, thậm chí không cần biết về các ứng cử viên. Những thông tin ít ỏi chủ yếu góp nhặt thông qua trích ngang của các ứng cử viên tại nơi bỏ phiếu. Điều đó dẫn đến hệ quả việc lựa chọn của cử tri mang nặng cảm tính, họ thường bầu cho qua chuyện. Thậm chí khi bầu xong, cử tri không còn nhớ mình đã bầu cho ai, họ có trúng cử không, họ làm gì, hoạt động ra sao?”[2]

          Ba là, công tác tuyên truyền chưa được thực hiện tốt. Khi hoạt động bầu cử sắp diễn ra, các đơn vị tuyên truyền với người dân: “bầu cử là quyền và nghĩa vụ” nên nhiều người dân không biết tầm quan trọng của bầu cử, chưa  hiểu rõ được quyền và nghĩa vụ của mình là gì.

Quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống bầu cử ở Việt Nam hiện nay

          Một là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Cần phân định sự chỉ đạo của Đảng với hoạt động của các Tổ chức phụ trách bầu cử, Mặt Trận Tổ Quốc, các tổ chức thành viên trong bầu cử. Là một chính đảng, Đảng đề cử các đảng viên được Đảng tuyển chọn. Do vậy, cần thực hiện dân chủ ngay trong nội bộ Đảng để tìm ra đảng viên ưu tú nhất.

          Hai là, đổi mới vận động bầu cử, vận động bầu cử phải là một trong các nguồn thông tin hữu hiệu về cuộc bầu cử, đặc biệt là thông tin của các ứng cử viên, các lực lượng tham gia tranh cử, thông tin về kế hoạch, chính sách trong tương lai của họ. Các ứng cử viên cần đề cao trách nghiệm, quan tâm tới cử tri; khắc phục tình trạng các cuộc gặp mặt, tiếp xúc cử tri sơ sài, tránh tính hình thức.

          Ba là, đổi mới công tác tuyên truyền, nên có các buổi tuyên truyền trước thềm bầu cử, nắm bắt vấn đề của người dân, hướng dẫn, giải đáp thắc mắc qua các kênh thông tin truyền thông đại chúng.



[1] Ths. Nguyễn Thị Hoài Phương, Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước của nhân dân trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Nghề luật, số 1, 2015, tr.11

[2] Đặng Đình Tân (2006), Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Nhận xét