Vai trò các loại nguồn của pháp luật Việt Nam
Pháp luật của đa số các nhà nước trên thế giới trong tất cả các giai đoạn phát triển của chúng đều có một số nguồn hình thức cơ bản là tập quán pháp, án lệ và văn bản quy phạm pháp luật. Ngoài ra, còn có thể có các nguồn khác tuỳ theo quy định của mỗi nước trong mỗi giai đoạn phát triển của nó. Hiện nay ở Việt Nam cũng có nhiều loại nguồn của pháp luật khác nhau, chúng ta cần biết rõ vị trí, vai trò của từng loại nguồn của pháp luật để hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả của nó. Sau đây là vị trí, vai trò của một số loại nguồn cơ bản của pháp luật Việt Nam hiện nay.
1. Tập quán pháp
Tập quán pháp là những quy tắc xử sự xuất phát từ những thói quen, những quy tắc ứng xử từ lâu
đời, đã ngấm sâu vào
tiềm thức của nhân dân và được nhân dân tự giác tuân thủ
nên nó có một số vai trò như sau:
Thứ nhất, tập quán pháp có vai trò bổ sung
cho pháp luật trong những điều kiện nhất định. Sự đan xen giữa các cộng đồng cư
trú như hiện nay tạo nên sự đa dạng về văn hóa, nhiều quan hệ xã hội, hiện tượng
xã hội phức tạp mà pháp luật chưa thể giải quyết được. Trong khi đó mỗi dân tộc
đã tồn tại trong cộng đồng của mình một hệ thống tập quán đã được đúc kết, sàng
lọc qua nhiều thế hệ, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn sẽ điều chỉnh được các
quan hệ xã hội trong nội bộ dân tộc đó và sẽ bổa sung các quy định còn thiếu của pháp luật,
đáp ứng được như cầu khách quan trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy
sinh.
Thứ hai, tập quán pháp có khả năng thay thế
sự điều chỉnh của pháp luật trong những phạm vi nhất định và ở một số lĩnh vực
quan hệ xã hội nhất định. Pháp luật có tính thống nhất trong phạm vi cả một quốc
gia và phản ánh được trình độ phát triển chung của xã hội. Song, trình độ phát
triển của từng vùng, từng địa phương lại khác nhau do đó không phải lúc nào, ở
đâu pháp luật cũng thâm nhập được vào cuộc sống và phát huy hết tác dụng điều
chỉnh. Trong điều kiện đó tập quán pháp sẽ đóng vai trò quan trọng và chủ yếu
trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội cụ thể.
Thứ ba, áp dụng tập quán pháp góp phần làm
cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn, dựa trên lòng
tin và sự tuân thủ sẵn có của người dân đối với các tập quán. Vì tập quán pháp
là những tập quán được hình thành từ thói quen trong cuộc sống nên nó rất gần
gũi với người dân. Tập quán pháp có tác dụng hỗ trợ cho việc thực hiện pháp luật
trong nhiều lĩnh vực, thê hiện rõ nhất trong việc thực hiện áp dụng các quy định
cụ thể của pháp luật cho việc chi tiết hóa, cụ thể hóa pháp luật.
Từ
những vai trò trên của tập quán pháp, ta có thể thấy được vị trí của nó: tập
quán pháp là hình thức pháp luật xuất hiện sớm nhất và là hình thức cơ bản, chủ
yếu và quan trọng nhất của các kiểu pháp luật chiếm hữu nô lệ, phong kiến. Còn
hiện tại, phạm vi ảnh hưởng của tập quán pháp bị thu hẹp dần. Ở Việt Nam hiện
nay, tập quán pháp được coi là nguồn thứ yếu bởi các quy định của nó chủ yếu tồn
tại ở dạng bất thành văn nên thường chỉ được hiểu một cách ước lệ, thiếu rõ
ràng, cụ thể.
2.
Tiền lệ pháp (Án lệ)
Án lệ là nguồn luật quan trọng trong quá trình hình thành
và phát triển của pháp luật. Với những đặc điểm riêng biệt của mình, án lệ đóng góp những vai trò
quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam hiện nay, cụ
thể:
Một
là, án lệ tạo sự đa dạng các nguồn của pháp luật. Án lệ góp phần đa dạng hóa
các căn cứ để giải quyết các vụ việc, đặc biệt những tình huống pháp lí cụ thể chưa được khái quát, dự liệu
và quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Hai
là, án lệ làm tăng tính thực tiễn của pháp luật, đảm bảo hệ thống pháp luật được
cập nhật liên tục, phù hợp nhu cầu thực tế.
Ba
là, án lệ góp phần đảm bảo tính toàn diện của pháp luật. Văn bản quy phạm pháp
luật chủ yếu là sự tiên liệu của nhà lập pháp nên nó không thể dự liệu đầy đủ tất
cả các trường hợp có thể xảy ra, khi đó án lệ là một giải pháp hữu hiệu góp phần
hoàn thiện pháp luật.
Bốn
là, án lệ đảm bảo tính thống nhất và công bằng trong quá trình áp dụng pháp luật.
Án lệ là khuôn mẫu cho các thẩm phán trong quá trình áp dụng pháp luật vào xét
xử, đảm bảo tính thống nhất trong xét xử, tính công bằng của pháp luật.
Năm
là, án lệ đáp ứng tính thực tiễn trong công tác giải thích pháp luật. Công tác
giải thích pháp luật giữ vai trò quan trọng trong pháp luật, nhất là với một nước
ưu tiên áp dụng văn bản quy phạm pháp luật như Việt Nam hiện nay.
Sáu
là, án lệ giúp khẳng định vai trò quan trọng của tòa án, cụ thể là thẩm phán
trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Bởi án lệ là sản phẩm từ kinh nghiệm và
sự sáng tạo của thẩm phán trong xét xử và song song cùng tồn tại với các văn bản
quy phạm pháp luật của nhà lập pháp.
Qua
các vai trò trên của án lệ ta thấy được trước đây vị trí của án lệ trong các loại
nguồn của pháp luật ở Việt Nam không được coi trọng lắm vì sự ảnh hưởng của hệ
thống pháp luật xã hội chủ nghĩa và xu hướng pháp điển hóa mạnh mẽ cũng như
tình hình thực tế của đất nước. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, với sự phát
triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa, sự giao thoa của các hệ thống pháp luật cùng với những
phát triển về kinh tế, xã hội và tư pháp ở Việt Nam thì án lệ đã và đang được xem xét là một trong các nguồn quan trọng
của pháp luật.
3.
Văn bản quy phạm pháp luật
Văn
bản quy phạm pháp luật đang được coi là loại nguồn chủ yếu và quan trọng nhất
trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay. Vì vậy nó có những vai trò quan trọng
trong việc xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay như sau:
Thứ
nhất, văn bản quy phạm pháp luật giúp pháp luật có tính chặt chẽ, khoa học,
chính xác hơn. Vì văn bản quy phạm pháp luật đòi hỏi tính logic trong việc sử dụng
ngôn ngữ để diễn đạt cùng sự khắt khe, chặt chẽ về trình tự, thủ tục ban hành
đã giúp cho nó mang tính chính xác cao.
Thứ
hai, văn bản quy phạm pháp luật góp phần đảm bảo tính quy phạm phổ biến của
pháp luật. Bởi vì các quy định của nó được thể hiện thành văn nên rõ ràng, cụ
thể, dễ đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, dễ phổ biến, dễ
áp dụng, có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trên phạm vi rộng.
Thứ
ba, văn bản quy phạm pháp luật có khả năng đáp ứng một cách linh hoạt, kịp thời
nhu cầu điều chỉnh của pháp luật đối với các quan hệ xã hội đa dạng, phong phú.
Khi thấy cần thiết phải điều chỉnh một loại quan hệ xã hội nào đó, có thể trong
khoảng thời gian ngắn văn bản quy phạm pháp luật có nội dung tương ứng sẽ được
ban hành, hoặc nếu thấy có nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật không
còn phù hợp nữa thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành sửa đổi, bổ
sung hay ban hành một văn bản mới để thay thế.
Với
những vai trò quan trọng trên thì văn bản quy phạm pháp luật đang chiếm vị trí
quan trọng nhất và là loại nguồn chủ yếu của pháp luật Việt Nam hiện nay.
Anh Tắc Kè - Hà Nội, ngày 8-4-2022
Nhận xét
Đăng nhận xét